Đây là một sự kiện văn hóa chính trị quan yếu đánh dấu một mốc son mới của tinh thần bạc nhược kết đoàn một lòng một dạ của dân chúng Việt Nam nhìn chung , của dân chúng Hà Nội-Huế-Sài Gòn nói riêng. Đồng thời , là minh chứng hùng hồn cho thế tất lịch sử đã trở nên chân lí của dân tộc Việt Nam , được chủ tịch Hồ Chí Minh tự tin tuyên bố trong năm mới năm 1963: “Nước Việt Nam ta là một/ Dân tộc Việt Nam ta là một/ cho dù sông cạn đá mòn/ dân chúng Nam Bắc là con một nhà” ( Hồ Chí Minh toàn tập , tập 11 , nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996 , trang 9 ). Trước ngày lễ kết nghĩa , sáng ngày 7/10/1960 , gần 1.000 đại biểu cán bộ và đồng bào ở Thủ đô đã dự buổi chuyện trò về tình hình Sài Gòn và Huế do Ban sinh dưỡng kết nghĩa Hà Nội-Huế-Sài Gòn tổ chức. Giáo sư Trần Văn Giàu thay mặt Hội Cùng làng Sài Gòn và đồng chí Hoàng Phương Thảo thay mặt Hội Cùng làng Huế , tuần tự thể hiện truyền thống quật cường lâu đời và phong trào đấu tranh khó khăn để thực hiện nhưng vô cùng can đảm của dân chúng Sài Gòn và Huế chống Mỹ-Diệm suốt sáu năm qua. Trong lễ kết nghĩa , bác sĩ Trần Duy Hưng thay mặt dân chúng Hà Nội , đồng chí Nguyễn Hộ , thay mặt dân chúng Sài Gòn-Gia Đinh , đồng chí Hoàng Phương Thảo , thay mặt dân chúng Huế và tất cả anh chị em Cùng làng Sài Gòn và Huế cũng đặc biệt nhấn mạnh mối tình kết đoàn keo sơn , gắn bó giữa dân chúng Hà Nội , Huế , Sài Gòn trong sự nghiệp xây dựng từng lớp chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc chiến tranh phóng thích cương cường ở miền Nam với khát vọng hợp nhất đất nước. Hà Nội , Huế và Sài Gòn là những thành phố sau cuối trong phong trào kết nghĩa giữa hai miền Nam Bắc mà khai mạc là của phong trào này là giữa hai tỉnh Hà Nam và Biên Hòa. Phong trào kết nghĩa Bắc-Nam bắt nguồn từ tinh thần bạc nhược yêu nước nồng nàn , tính cách chân thực cật ruột của dân chúng hai miền. Trải qua các thời kỳ lúa ra đòng lịch sử , dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh , dòng sông Gianh vẫn chẳng thể ngăn cách được Đàng Trong-Đàng Ngoài. Mánh khoé của thực thương pháp xâm lăng chia cắt đất nước ta thành “ba kỳ” cũng không đạt được mục đích. Dòng sông Bến Hải-cầu Hiền Lương cũng chỉ là ranh giới tạm chia cắt trên thực tiễn địa lý của đất nước , chẳng thể chia cắt được lòng người dân hai miền Nam-Bắc luôn hướng về nhau , luôn bên nhau , cùng một nhịp đập của một trái tim đưa dòng máu lưu thông nuôi sống thân hình của đất mẹ Việt Nam. Để đến ngày hợp nhất trọn vẹn , non sông thu về một mối sau đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử , như Thư chúc hạ năm mới ( năm 1964 ) của Bác Hồ: “Bắc Nam như cội với cành/ huynh đệ cật ruột , đấu tranh một lòng/ sau này hợp nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà..." ( Hồ Chí Minh toàn tập , tập 11 , nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996 , trang 187 ). Phong trào đấu tranh chống Mỹ-Diệm mạnh mẽ ở miền Nam , những tin tức đấu tranh chiến thắng ở Huế , Sài Gòn đã cổ vũ dân chúng Thủ đô và cả miền Bắc , đã là sức mạnh cổ vũ lớn đối với những người Hà Nội và những con em của Sài Gòn-Huế hiện ở miền Bắc. Những phong trào và tin tức đó đã biến tình nhớ thương quê hương , gia đình , bằng hữu thành sức mạnh kiến thiết đất nước , càng mến yêu nhớ thương miền Nam , xây dựng miền Bắc từng lớp chủ nghĩa. Với mối tình kết nghĩa huynh đệ Hà Nội-Huế-Sài Gòn , mỗi người dân lại càng háo hức , hăng hái ra công thi đua , tận tình , Hết sức góp phần xây dựng chủ nghĩa từng lớp và đấu tranh hợp nhất nước nhà. Cuộc kháng chiến canh gác và phóng thích của dân tộc Việt Nam thời kỳ lúa ra đòng chống Mỹ cứu nước đã chứng minh rằng phong trào kết nghĩa của ba thành phố lớn của ba miền Bắc-Trung-Nam là Hà Nội , Huế , Sài Gòn nói riêng và các địa phương khác ở hai miền nhìn chung đã là một trong những nền tảng tạo nên sức mạnh Việt Nam , được biểu lộ cụ thể qua các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai” , "Tất cả vì miền Nam ruột thịt” , phong trào phụ nữ "Ba đảm đang” và khí thế ra quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”... Hàng vạn lượt người con của miền Bắc không ngại chết , khó khăn để thực hiện vượt ngàn dặm đại ngàn Trường Sơn vào tăng viện cho các chiến trận ở miền Nam , trong đó có chiến trận Huế , Sài Gòn , lập nên những chiến tích huyền thoại trên con đường Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh lịch sử , và ở nhiều chiến trận khác ở khắp miền Nam. Những chiến thắng vang dội khắp năm châu bốn bể như cuộc tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng phóng thích hoàn toàn miền Nam , đáp ứng nguyện vọng hợp nhất đất nước của dân chúng hai miền , trong đó nhân ái dân Hà Nội , Huế , Sài Gòn. Sau năm 1975 , dân chúng Hà Nội lại sát cánh cùng dân chúng Huế , thành phố Hồ Chí Minh khắc phục những hậu quả chiến tranh , khôi phục kinh tế và vượt qua những có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn của một thời bao cấp ( 1975-1985 ) , bước vào thời kỳ lúa ra đòng cách tân ( từ năm 1986 ) , để đến hiện nay cùng nhau kết đoàn , tự tín bước trên con đường xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng từng lớp chủ nghĩa , nền kinh tế tri thức. 50 năm qua , truyền thống kết đoàn hiệp tác , gắn bó keo sơn của ba địa phương tiếp tục được vun đắp , tăng cường nhằm phục vụ người ốm đắc lực cho việc thực hành nhiệm vụ chính trị ở mỗi địa phương , góp phần cùng cả nước hoàn thành chiến thắng sự nghiệp công nghiệp hóa , đương đại hóa đất nước vì mục đích dân giàu , nước mạnh , từng lớp công bình , dân chủ , văn minh./. Phương Dung ( Vietnam+ )
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét